Những người lương dưới 5.310.000 đồng/tháng sẽ được tặng 1.000.000 đồng/người nhân dịp Tết Nguyên đán 2026 theo Nghị quyết 26, cụ thể ra sao?

Theo quy định pháp luật, lương dưới 5.310.000 đồng/tháng được NSNN tặng 1.000.000 đồng/người nhân dịp Tết Nguyên đán 2026 cho những đối tượng nào tại Nghị quyết 26?

Theo Chuyên trang Góc nhìn pháp lý có bài Những người lương dưới 5.310.000 đồng/tháng sẽ được tặng 1.000.000 đồng/người nhân dịp Tết Nguyên đán 2026 theo Nghị quyết 26, cụ thể ra sao? Nội dung như sau:
Theo Thư viện Pháp luật, ngày 10/12/2025, Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa X, Kỳ họp thứ 8 đã thông qua Nghị quyết 26/2025/NQ-HĐND quy định đối tượng, mức hỗ trợ trong dịp Tết Nguyên đán 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có hiệu lực từ ngày 21/12/2026 áp dụng cho các đối tượng sau:
– Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình, cá nhân là đối tượng người có công với cách mạng, đối tượng thuộc diện chính sách, bảo trợ xã hội, hưu trí, bệnh nhân, phạm nhân, đoàn viên, người lao động có hoàn cảnh khó khăn.
– Công chức, viên chức, người lao động tại các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể, cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các cơ quan ngành dọc và một số đơn vị quân đội trên địa bàn có quan hệ phối hợp với tỉnh Đồng Nai.
– Các tổ chức, cá nhân, gia đình, đơn vị có liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị quyết này trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

1-1769621574.jpgNhững người lương dưới 5.310.000 đồng/tháng sẽ được tặng 1.000.000 đồng/người nhân dịp Tết Nguyên đán 2026 theo Nghị quyết 26, cụ thể ra sao? Ảnh minh họa
Căn cứ tại khoản 7 Điều 3 Nghị quyết 26/2025/NQ-HĐND về mức hỗ trợ trong dịp Tết Nguyên Đán tại Đồng Nai, Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quy định về mức hỗ trợ cụ thể:
Mức hỗ trợ cụ thể cho từng đối tượng
7. Mức 1.000.000 đồng/người hỗ trợ cho khoảng 15.000 đoàn viên, người lao động của Liên đoàn Lao động có hoàn cảnh khó khăn thông qua Liên đoàn Lao động tỉnh:

c) Đoàn viên, người lao động tại doanh nghiệp bị giảm đơn hàng, hoặc doanh nghiệp gặp khó khăn phải thu hẹp sản xuất, ngừng hoạt động, giải thể, phá sản, di dời đi nơi khác, người sử dụng lao động bỏ trốn, dẫn đến người lao động bị nghi việc không lương, tạm hoãn hợp đồng lao động, ngừng việc, bị nợ lương, nợ thưởng, chấm dứt hợp đồng lao động; hoặc có thu nhập thấp (tiền lương tháng thấp hơn mức lương tối thiểu);
Theo đó, tặng 1.000.000 đồng/người cho khoảng 15.000 đoàn viên, người lao động của Liên đoàn Lao động có hoàn cảnh khó khăn thông qua Liên đoàn Lao động tỉnh có thu nhập thấp (tiền lương tháng thấp hơn mức lương tối thiểu).
Đồng thời, tại Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu từ ngày 01/01/2026 như sau:

Vùng
Mức lương tối thiểu tháng

(Đơn vị: đồng/tháng)
Mức lương tối thiểu giờ

(Đơn vị: đồng/giờ)

Vùng I
5.310.000
25.500

Vùng II
4.730.000
22.700

Vùng III
4.140.000
20.000

Vùng IV
3.700.000
17.800

Thêm vào đó, các địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng 1 (5.310.000 đồng/tháng) gồm: các phường Biên Hòa, Trấn Biên, Tam Hiệp, Long Bình, Trảng Dài, Hố Nai, Long Hưng, Bình Lộc, Bảo Vinh, Xuân Lập, Long Khánh, Hàng Gòn, Tân Triều, Phước Tân, Tam Phước và các xã Đại Phước, Nhơn Trạch, Phước An, Phước Thái, Long Phước, Bình An, Long Thành, An Phước, An Viễn, Bình Minh, Trảng Bom, Bàu Hàm, Hưng Thịnh, Dầu Giây, Gia Kiệm, Thống Nhất, Xuân Đường, Xuân Đông, Xuân Định, Xuân Phú, Xuân Lộc, Xuân Hòa, Xuân Thành, Xuân Bắc, Trị An, Tân An, Phú Lý.
Như vậy, NSNN tặng 1.000.000 đồng/người nhân dịp Tết Nguyên đán 2026 cho khoảng 15.000 đoàn viên, người lao động của Liên đoàn Lao động có hoàn cảnh khó khăn thông qua Liên đoàn Lao động tỉnh có thu nhập thấp dưới 5.310.000 đồng/tháng tại các địa bàn phường Biên Hòa, Trấn Biên, Tam Hiệp, Long Bình, Trảng Dài, Hố Nai, Long Hưng, Bình Lộc, Bảo Vinh, Xuân Lập, Long Khánh, Hàng Gòn, Tân Triều, Phước Tân, Tam Phước và các xã Đại Phước, Nhơn Trạch, Phước An, Phước Thái, Long Phước, Bình An, Long Thành, An Phước, An Viễn, Bình Minh, Trảng Bom, Bàu Hàm, Hưng Thịnh, Dầu Giây, Gia Kiệm, Thống Nhất, Xuân Đường, Xuân Đông, Xuân Định, Xuân Phú, Xuân Lộc, Xuân Hòa, Xuân Thành, Xuân Bắc, Trị An, Tân An, Phú Lý.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 112 Bộ luật Lao động 2019 về nghỉ lễ, tết như sau:
Nghỉ lễ, tết
1. Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:
a) Tết Dương lịch: 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);
b) Tết Âm lịch: 05 ngày;
c) Ngày Chiến thắng: 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);
d) Ngày Quốc tế lao động: 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);
đ) Quốc khánh: 02 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch và 01 ngày liền kề trước hoặc sau);
e) Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).
2. Lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngoài các ngày nghỉ theo quy định tại khoản 1 Điều này còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ.
3. Hằng năm, căn cứ vào điều kiện thực tế, Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể ngày nghỉ quy định tại điểm b và điểm đ khoản 1 Điều này.
Như vậy, trong một năm thì người lao động sẽ được nghỉ 11 ngày lễ, tết theo quy định. Ngoài ra, đối với lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam sẽ được nghỉ thêm 1 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 1 ngày Quốc khánh của nước họ.
Ngoài ra, ngày 07/01/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư đã ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW năm 2026 về phát triển văn hoá Việt Nam, trong đó thống nhất chọn 24/11 hằng năm là Ngày Văn hoá Việt Nam và người lao động cả nước sẽ được nghỉ làm việc vào ngày này và hưởng nguyên lương bên cạnh các ngày nghỉ lễ tết theo quy định tại Điều 112 Bộ luật Lao động 2019.
Báo Vietnamnet đăng tin: “Tiền thưởng Tết, tháng lương thứ 13 sẽ tính thuế thu nhập cá nhân thế nào?”, nội dung cụ thể như sau: 
Chị N.T.T – đang làm việc tại doanh nghiệp FDI phản ánh bất cập liên quan đến chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với khoản tiền thưởng Tết.
Theo chị T., khoản tiền thưởng cuối năm (tháng lương thứ 13) của chị được cộng dồn vào thu nhập tháng 12 hoặc tháng 1, khiến tổng thu nhập của tháng đó tăng vọt và bị áp thuế ở bậc cao hơn theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
Dù thu nhập thực tế trong cả năm không thay đổi, người lao động vẫn bị thiệt do khoản thuế khấu trừ tạm thời cao hơn.
Chị T. kiến nghị Bộ Tài chính nghiên cứu phương án sửa đổi cách tính thuế đối với khoản tiền thưởng cuối năm. Cụ thể, cho phép doanh nghiệp và người lao động được lựa chọn tính bình quân khoản thưởng trên tổng thu nhập cả năm; hoặc tách riêng khoản thưởng để áp dụng bậc thuế hợp lý, tránh gây thiệt thòi không đáng có cho người lao động.

Tiền thưởng Tết cuối năm, tháng lương thứ 13 đều phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
Trả lời kiến nghị, Cục Thuế (Bộ Tài chính) dẫn quy định tại Nghị định số 65/2013/NĐ-CP về thu nhập chịu thuế và xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công.
Theo đó, thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền, kể cả thưởng bằng chứng khoán là thu nhập chịu thuế.
Đối với cá nhân có ký hợp đồng lao động, hàng tháng tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập khấu trừ thuế của từng cá nhân căn cứ vào thu nhập tính thuế tháng và biểu thuế lũy tiến từng phần.
Theo quy định tại Nghị định 126 của Chính phủ, tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế thu nhập cá nhân có trách nhiệm khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng hoặc theo quý.
Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế và quyết toán thuế thay cho cá nhân có ủy quyền hoặc cá nhân thực hiện kê khai, nộp thuế, khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân trong một số trường hợp.
Cơ quan thuế cũng dẫn quy định tại Thông tư số 111/2013 của Bộ Tài chính. Trong đó, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên tại nhiều nơi.
Như vậy, pháp luật hiện hành đã có quy định về việc tổng hợp thu nhập, tính thuế, khấu trừ và khai nộp thuế thu nhập cá nhân.
Cơ quan thuế đề nghị bà T. căn cứ quy định và thu nhập thực tế phát sinh để thực hiện nghĩa vụ thuế đúng quy định.